TIN TỨC
Không
khó để nhận ra sự mê đắm của người châu Á với các nhãn mác hàng hiệu
nhưng để “giải mã” cặn kẽ hiện tượng đó, người ta phải đọc tác phẩm
“Tình yêu hàng hiệu” của hai chuyên gia Radha Chadha và Paul Husband.
Năm giai đoạn lan truyền hàng hiệu
Ở
giai đoạn một, sự nghèo khổ trong một thời gian dài đã tạo ra sự khao
khát, một giấc mơ - cho dù có xa xôi và khó đạt được. Ở giai đoạn hai,
tăng trưởng kinh tế cao, bắt đầu có tiền, khi giới trung lưu đang làm
quen với những tiện nghi đời thường thì giới thượng lưu đã mang về
những món hàng hiệu từ các chuyến đi châu Âu hay các thiên đường mua
sắm khác. Các cửa hàng cao cấp bắt đầu mọc lên. Giai đoạn ba là khoe
của. Khi bắt đầu có tiền, người ta có nhu cầu thông báo cho mọi người
biết. Hàng hiệu trở thành một vật đánh dấu địa vị xã hội. Ở giai đoạn
bốn, hàng hiệu lan tràn khắp nơi. Người tiêu dùng tiếp nhận hàng hiệu ở
quy mô lớn, được thúc đẩy bởi động cơ muốn hòa đồng. Không có hàng
hiệu, bạn sẽ không được nhóm xã hội của mình thừa nhận. Ở giai đoạn
năm, xài hàng hiệu đã trở thành lối sống. Người tiêu dùng đã được tôi
luyện trong các lò mua sắm và có hiểu biết sâu sắc về sản phẩm định
mua. Người tiêu dùng bị khóa trong thói quen và thẩm mỹ mua sắm hàng
hiệu. Ngay cả khi nền kinh tế có khó khăn, người ta vẫn tiếp tục mua
hàng hiệu, đơn giản vì họ... không thể dừng lại được.
Định vị thị trường hàng hiệu của các nước châu Á
Rõ
ràng ở châu Á, ai cũng yêu hàng hiệu nhưng mỗi nước lại đang ở những
giai đoạn khác nhau tùy theo hoàn cảnh lịch sử của mình. 
Ở
Nhật, hàng hiệu đã phát triển đến giai đoạn cuối cùng của mình. Ai cũng
dùng hàng hiệu. Người tiêu dùng xứ Phù Tang sành sỏi và hoàn toàn tự
tin với hàng hiệu. Nó đã trở thành những món hàng thiết yếu mà nếu
thiếu, bạn sẽ trở thành người thấp kém trong mắt mọi người và trong mắt
chính bạn. Ở Nhật, người ta phải thuộc về một nhóm nào đó và phải tuân
theo các chuẩn mực về sinh hoạt, ứng xử và thậm chí cả ăn uống, trang
phục theo nhóm đó.
Tại
Hồng Kông và Đài Loan, nguồn gốc khác nhau của cư dân và sau đó là
phong cách quản lý đã làm cho sự khác biệt trở nên tương đối lớn. Người
ở Hồng Kông vốn là dân thượng lưu và thương nhân giàu có từ Thượng Hải
và nhiều thành phố duyên hải khác sang, còn Đài Loan lại phần lớn là
dân nghèo đến từ Phúc Kiến và Quảng Đông. Hồng Kông là một trung tâm
tài chính và thương cảng đầu mối, đồng thời việc miễn thuế cũng làm cho
hàng hiệu ở đây rẻ hơn. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thị trường hàng
hiệu này trị giá tới 3,5 tỷ đô la. Đài Loan thì lại khác. Tại đây các
tập đoàn lớn đã đổ bộ và doanh số không ngừng tăng. Tuy nhiên, nhiều
khu mua sắm cao cấp vẫn nằm cạnh những bãi đỗ xe tay ga úi xùi và giao
thông lộn xộn. Với nhiều người Đài Loan, xài hàng hiệu là chuyện địa vị
chứ không phải phong cách.
Trung
Hoa đại lục đang nằm ở giai đoạn ba của hàng hiệu. Trung Quốc đã thực
hiện cuộc “đại nhảy vọt’’ từ những bộ đồng phục đại cán đến complê
Armani. Thời trang hàng hiệu đã trở thành một thứ tuyên ngôn về vị trí
xã hội. Ở đây người mua rất phong phú, từ những tỷ phú siêu giàu mới
nổi đến những quan chức chính quyền, từ các bà vợ tài phiệt đến đám con
cái của các gia đình giàu có, từ những sĩ quan quân đội cao cấp đến
những cô vợ bé của các ông chủ Hồng Kông, Đài Loan…
Sang
đến xứ sở Kim chi, mặc dù Chính phủ Hàn Quốc vận động quốc dân yêu
nước, dùng hàng nội, nhưng dường như người dân càng ngày càng không thể
chống chọi được với cơn mê hàng hiệu! Thế vận hội 1988 đã nhanh chóng
tạo bệ phóng cho cơn sốt hàng hiệu. Và khi sắc đẹp trở thành nỗi ám ảnh
của quốc gia thì không có lý gì các trung tâm giải phẫu thẩm mỹ, các
công ty mỹ phẩm không tung hoành trên thị trường, LVMH không ngừng tăng
doanh số. Hiện nay, Hàn Quốc đang ở giai đoạn thứ tư: hòa nhập.
Thị trường hàng hiệu ở các nước Đông Nam Á thì sao? Khi
Cụ thể hơn, thị trường hàng hiệu
Trong
khi đó, Ấn Độ luôn tồn tại song song tầng lớp trên và tầng lớp dưới.
Các gia đình giàu có nhiều đời vừa có tiền lại vừa có khiếu thẩm mỹ
tinh tế trở thành những khách hàng đương nhiên của hàng hiệu. Các tỷ
phú và triệu phú của Ấn Độ liên tục xuất hiện trong các bảng xếp hạng.
Nhiều người trong số họ đi lên từ tay trắng nên sau này không ngần ngại
chi tiêu. Tầng lớp thứ ba là những “cổ cồn vàng”. Họ là những người
thành đạt nhưng chưa có nhu cầu dùng hàng hiệu. Để bán được cho họ,
hàng hiệu phải chuyển mình thành những món quà tặng, phải lọt vào danh
sách “đầu tư” chứ không phải là “chi tiêu”.
Từ
những phân tích này, các tác giả cuốn sách rút ra công thức chung cho
sự thành công của hàng hiệu: đó là sự kết hợp của nghịch lý chọn lọc -
đại trà. Vừa cho ít người vừa mở rộng chủng loại; vừa cho giá “trên
trời” vừa phải có giá chấp nhận được. Trong công thức thành công luôn
có tiệc sang trọng + khách mời ngôi sao và những người có quan hệ rộng
+ một chút báo chí + một câu chuyện hay để kể.
Quanta từng được tờ New York Times (Mỹ) gọi là “nhà sản xuất laptop lớn nhất nhưng ít được biết đến nhất”.
Những chiếc máy tính xách tay thương hiệu Dell,... Chi tiết ...Với hơn 80 năm kinh nghiệm, Nielsen đã xây dựng được danh tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu thi trường và được xem là khuôn mẫu của hệ thống những chuẩn mực cần đạt ...
Chi tiết ...























